Những cuộc đào thoát của các phi công trong Thế chiến II

    Share
    avatar
    hoalucbinh
    Pre-Moderator
    Pre-Moderator

    Tổng số bài gửi : 2983
    Join date : 15/06/2012

    default Những cuộc đào thoát của các phi công trong Thế chiến II

    Bài gửi by hoalucbinh on Mon Oct 31, 2016 10:08 pm


    ... Thân mời tất cả Huynh Đệ Tỷ Muội, cùng xem lại lịch sử
    những cuộc đào thoát của các phi công trong Thế chiến II....

    - 1) Cuộc đào thoát của 200 phi công khỏi trại giam Đức Quốc xã trong Thế chiến II

     Gần 200 tù binh phi công đã tổ chức đào thoát khỏi một trong những trại giam khét tiếng nghiêm ngặt của Đức Quốc xã trong Thế chiến II.

     

    Một cuộc họp bí mật bàn kế hoạch đào thoát diễn
    ra trong trại  Stalag Luft III. Ảnh:  Stalag Luft III[

    Vào cuối Thế chiến II, Stalag Luft III, nằm cách Berlin khoảng 150 km về phía đông, là một trại giam tù binh chiến tranh với hệ thống bảo vệ chắc chắn nhất của quân đội phát xít Đức.

    Tuy nhiên, Đức Quốc xã đã vô tình đưa nhiều tù nhân có khả năng vượt ngục thiện chiến nhất tới đây và họ đã tổ chức một cuộc đào thoát có quy mô lớn nhất lịch sử các trại giam tù binh chiến tranh, theo Ciel de Gloire.

    Stalag Luft III có sức chứa 10.000 người, là nơi giam giữ chủ yếu các phi công của không quân Hoàng gia Anh và một nhóm nhỏ phi công Mỹ, nổi bật trong số đó là Roger Bushell, chỉ huy không đoàn 92 của Anh. Máy bay của ông bị bắn hạ trong trận đánh tại thành phố Dunkerque của Pháp năm 1940 và ông từng nhiều lần vượt ngục bất thành trong thời gian bị giam giữ.

    Sau nhiều cuộc họp bí mật, nhóm của Bushell đã nhất trí tiến hành một cuộc chạy trốn quy mô khỏi Stalag Luft III.
    Với khả năng thuyết phục, họ đã vận động được tổng cộng gần 600 tù nhân tham gia kế hoạch đào ba đường hầm bí mật dài tổng cộng 110 m, nối từ trong trại giam ra một khu rừng bên ngoài.

    600 tù nhân được chia thành hai lực lượng riêng biệt, một bộ phận trực tiếp tham gia đào hầm, bộ phận còn lại đảm bảo công việc cung cấp dụng cụ và hỗ trợ hậu cần.

    Theo số liệu các nhân chứng kể lại, ngoài các máy xúc được biên chế để lao động, các tù nhân phải bí mật biển thủ khoảng 1.200 con dao, gần 1.000 thìa muỗng, 1.400 vỏ lon sữa để phục vụ công tác xúc đất, cùng 90 khung giường, 4.000 thanh dát giường, 35 ghế, 20 bảng gỗ cho việc chống và gia cố đường hầm.  




    So đồ đường hầm do các tù nhân bí mật đào để
    phục vụ kế hoạch trốn chạy. Đồ họa: Ciel de Gloire

    Do khu giam giữ được xây dựng cách mặt đất khoảng 60 cm, nên những tên lính gác có thể đã lơ là trong việc truy xét những dấu hiệu khả nghi bên dưới và truy tìm các đường hầm bí mật.

    Điều này tạo cơ hội cho những tù nhân đào đường hầm với quy mô lớn như vậy.

    Khi đường hầm hoàn thiện, chỉ có khoảng 200 tù binh đảm bảo các điều kiện như vị trí làm việc, thời gian... để tham gia đào thoát đợt đầu.

    Đêm ngày 24/3/1944, kế hoạch đào thoát chính khức được bắt đầu. Tuy nhiên, thật không may là đường hầm được đào khá nông và ngắn hơn 10 m so với dự kiến, khiến điểm ra của các tù nhân không lẫn được vào rừng cây để che mắt lính gác.

    Các tù nhân sau đó phải đợi đến lúc lính gác thay phiên để trồi lên mặt đất và làm kế hoạch chậm lại rất nhiều so với thời gian đề ra.

    Khi tù binh quân thứ 77 chuẩn bị thoát ra khỏi đường hầm bí mật, một lính canh đã phát hiện ra điều đó và báo động cho những sĩ quan khác làm việc trong nhà tù Stalag Luft III. Tất cả những người còn lại đều bị bắt giữ.

    Sau vụ việc, Adolf Hitler nổi giận và ra lệnh tử hình tất cả những người bị bắt, nhưng hai cố vấn là Goering và Himmler thuyết phục trùm phát xít chỉ nên bắn 50 người nhằm giảm bớt những phản đối quốc tế.

    Những tù nhân trốn thoát phải đương đầu thời tiết khắc nghiệt của mùa đông, trong khi họ không thể mang theo quần áo và đồ dùng cần thiết nên phần lớn đã thiệt mạng. Cuối cùng chỉ có 3 người may mắn sống sót và quay trở về quê nhà ở Anh.

    Chỉ huy trại Stalag Luft III, Oberst von Lindeiner-wildau bị buộc thôi việc và đưa ra tòa án binh với mức án 2 năm tù giam.

    Do quy mô và mức độ ly kỳ của sự việc, cuộc vượt ngục khỏi trại Stalag Luft III được dựng thành phim "The Great Escape" vào năm 1963...














    avatar
    hoalucbinh
    Pre-Moderator
    Pre-Moderator

    Tổng số bài gửi : 2983
    Join date : 15/06/2012

    default Re: Những cuộc đào thoát của các phi công trong Thế chiến II

    Bài gửi by hoalucbinh on Mon Oct 31, 2016 11:03 pm


    ... Thân mời tất cả Huynh Đệ Tỷ Muội, cùng xem lại lịch sử
    những cuộc đào thoát của các phi công trong Thế chiến II....

    - 2 ) Cuộc đào thoát của phi công Liên Xô vén màn bí mật tên lửa Đức

     Một phi công Liên Xô cướp máy bay đào thoát khỏi trại tập trung Đức Quốc xã, mang theo bí mật công nghệ tên lửa đẩy của kẻ thù.

     

    Phi công Mikhail Petrovich Devyataev, người tổ chức cuộc
    đào thoát khỏi trại tập trung Đức Quốc xã. Ảnh: Soviethammer..

     Khu vực thử nghiệm Peenemünde đặt trên hòn đảo Usedom, biển Baltic, được coi là nơi sản sinh ra các tên lửa V-1, V-2 cũng như một số loại máy bay hiện đại nhất của Đức Quốc xã trong Thế chiến II, theo Aircrewremembered.

    Nhằm tận dụng sức lao động của tù binh cho việc sửa chữa phương tiện và sản xuất vật liệu thô, quân đội Đức cho lập một trại tập trung trong khu vực Peenemünde. Đây cũng là nơi giam giữ anh hùng phi công chiến đấu của Liên Xô Mikhail Petrovich Devyataev, người đã tổ chức một cuộc đào thoát được coi là bất khả thi lúc bấy giờ.

    Giai đoạn đầu của chiến tranh, Devyataev đã là một phi công nổi tiếng. Ông là người đầu tiên bắn rơi chiếc máy bay bổ nhào lợi hại Junkers Ju 87, và bắn hạ tổng cộng 9 máy bay của Đức trước khi bị bắt làm tù binh vào tháng 7/1944.

    Do những "thành tích" đó, Devyataev bị xếp vào danh sách tử tù và chuyển đến trại tập trung nổi tiếng Sachsenhausen. Tại đây, tất cả tù nhân đều được cấp quần áo đặc biệt với số hiệu tù binh riêng.

    Tưởng như tất cả đã kết thúc đối với Devyataev, nhưng vận may đã đến với ông.

    Một người thợ cắt tóc trong trại có cảm tình với Devyataev, đã đánh tráo số hiệu của một tù binh khác mới bị chết cho ông. Devyataev trở thành tù binh thông thường với tên mới là Grygory Nikitenko.

    Sau đó, Devyataev được chuyển tới trại tập trung Peenemünde, bị bắt lao động phục vụ cho các chương trình dự án máy bay, tên lửa của Đức Quốc xã.

    Với kinh nghiệm và năng khiếu thiên bẩm về nghề nghiệp, Devyataev bí mật nghiên cứu danh mục máy bay đang được sửa chữa tại các lán trại và nghe ngóng thông tin về những cuộc thử nghiệm vũ khí của quân Đức từ tù binh cũ. Nhờ đó, ông nắm được không ít thông tin, tài liệu liên quan đến chương trình tên lửa bí mật của Đức là V-1, V-2, vốn được coi là những tên lửa đạn đạo đầu tiên trên thế giới.


    Đào thoát..  



    Máy bay  Heinkel He 111 của quân đội Đức Quốc xã. Ảnh: Wikipedia


    Bất chấp chế độ quản thúc trong trại rất nghiêm ngặt, Devyataev vẫn nung nấu ý định và lên kế hoạch chạy trốn bằng máy bay.

    Devyataev lựa chọn 10 người tù tin cậy, đảm bảo các điều kiện phục vụ kế hoạch đào thoát như có quan hệ với lính canh, làm việc gần sân bay, có lòng căm thù đối với quân Đức.

    Thời gian đào thoát được ấn định vào tháng 2 năm 1945, phương tiện cụ thể là máy bay ném bom Heinkel He 111 vì có đủ chỗ cho 10 người. Thời điểm chính xác là khoảng thời gian diễn ra bữa tối, vì lúc đó hầu hết sĩ quan, lính gác Đức đều đến phòng ăn dùng bữa.

    Trưa ngày 8 tháng 2 năm 1945, những người trong nhóm đào tẩu làm việc dọn dẹp sân bay. Bình thường việc tiến lại gần máy bay bị cấm, nhưng đội của Devyataev thông báo rằng họ phải sửa sang lại các ụ đất cạnh đó.

    Trong lúc làm việc, theo tín hiệu, một thành viên trong đội dùng xà beng giết chết lính canh. Một thành viên khác nhanh chóng giả dạng tên này và dẫn đội của Devyataev tiếp cận và chiếm máy bay Heinkel He 111.

    Quá trình khởi động máy bay diễn ra rất khó khăn do gặp sự cố ở ắc-quy và bộ phận định hướng, nhưng nhờ Devyataev xử lý nhanh chóng, chiếc Heinkel He 111 cuối cùng cất cánh thành công.


    Trên đường chạy trốn, nhóm Devyataev chạm trán với tiêm kích của Đức trên đường làm nhiệm vụ trở về, nhưng may mắn là chiếc máy bay này đã cạn nhiên liệu và hết đạn.

    Đội của Devyataev thoát khỏi sự truy đuổi của quân đội Đức an toàn, nhưng lại bị trúng pháo của lực lượng phòng không Liên Xô và buộc phải hạ cánh xuống khu vực thuộc quyền kiểm soát của Hồng quân.

    Ban đầu Cơ quan An ninh Liên Xô không tin việc nhóm Devyataev trốn thoát khỏi trại bằng máy bay, thậm chí ông còn bị nghi ngờ là gián điệp của Đức Quốc xã và bị đưa ra tòa án binh.

    Devyataev chỉ được minh oan khi tổng công trình sư nổi tiếng của Liên Xô Sergei Korolev khẳng định những thông tin, tài liệu do ông cung cấp đóng vai trò rất quan trọng trong việc sản xuất mẫu tên lửa đạn đạo đầu tiên và sau này là chương trình không gian của Liên Xô.

    Năm 1957, Devyataev được trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô. Ông mất năm 2002 ở tuổi 85 tại Kazan, Cộng hòa Tatarstan, Liên bang Nga.














    avatar
    hoalucbinh
    Pre-Moderator
    Pre-Moderator

    Tổng số bài gửi : 2983
    Join date : 15/06/2012

    default Re: Những cuộc đào thoát của các phi công trong Thế chiến II

    Bài gửi by hoalucbinh on Tue Nov 01, 2016 12:17 am


    ... Thân mời tất cả Huynh Đệ Tỷ Muội, cùng xem lại lịch sử
    những cuộc đào thoát của các phi công trong Thế chiến II....

    - 3 ) Cuộc đào  tẩu chấn động của phi công Mig-25 Liên Xô...

     Cuộc đào tẩu đến Nhật Bản của một phi công Liên Xô trở thành vận may của tình báo phương Tây khi nắm trong tay chiếc tiêm kích Mig-25 đáng sợ. .

     

    Tiêm kích Mig-25 Foxbat của Liên Xô. Ảnh: RBTH.

    Ngày 6 tháng 9 năm 1976, khi đang bay huấn luyện cùng phi đội tiêm kích Mig-25 gần bờ biển Nhật Bản, trung úy không quân Liên Xô Viktor Belenko tách khỏi đội hình và bay thấp để tránh bị radar phát hiện, theo RBTH.

    Khi chiếc máy bay tiến vào không phận Nhật Bản, hai tiêm kích F-4 Phantom của Nhật lập tức đuổi theo nhưng không thể bắt kịp chiếc chiến đấu cơ nhanh nhất thế giới khi đó. Belenko hạ cánh ở Hakodate, miền bắc Nhật Bản và nhanh chóng bị cảnh sát Nhật áp tải đi.

    Đối với phương Tây, cuộc đào thoát này là một vận may bất ngờ, bởi Mig-25 từ lâu vẫn là tiêm kích bí ẩn nhất họ muốn tìm hiểu sau khi một số chuyên gia tỏ ra ngưỡng mộ và một số phi công nghe tên đã khiếp sợ.

    Tiêm kích Mig-25 được Cục Thiết kế Mikoyan-Gurevich của Liên Xô bắt đầu nghiên cứu phát triển đầu thập niên 1960 sau khi có các thông tin về việc Mỹ đang phát triển một oanh tạc cơ có vận tốc Mach 3 (1.020 m/s). Lo ngại oanh tạc cơ B-70 Valkyrie trang bị hạt nhân có thể tàn phá lãnh thổ, Moscow đã quyết định phát triển một tiêm kích đánh chặn có tốc độ tương đương.

    Dù dự án oanh tạc cơ Valkyrie gặp trục trặc và bị hủy, Liên Xô vẫn kiên trì với dự án này, và kết quả là Mig-25 Foxbat ra đời, trở thành tiêm kích đánh chặn nhanh nhất thế giới khi đó. Mig-25 được Liên Xô áp dụng các biện pháp bảo mật công nghệ nghiêm ngặt khiến phương Tây không thể nào tiếp cận được.
    Bởi vậy, cuộc đào tẩu của Belenko cùng với một chiếc Mig-25 nguyên vẹn thực sự là một cơ hội trời cho.

    Ban đầu, người Nhật không biết xử lí Belenko và chiếc tiêm kích đào tẩu như nào.
    Trong lúc Liên Xô muốn Nhật trao trả viên phi công này thì Mỹ muốn kiểm tra chiếc tiêm kích vẫn là bí ẩn với họ. .





    Chiếc tiêm kích Mig-25 đào tẩu tại sân bay Nhật. Ảnh: History

    Khi Trung tâm Tình báo Không quân và Không gian Quốc gia Mỹ tháo rời chiếc tiêm kích Mig-25, họ thực sự kinh ngạc nhận ra hệ thống điện tử trên khoang dựa trên công nghệ bóng đèn điện tử chân không lạc hậu chứ không phải thiết bị bán dẫn mới nhất thời đó. Các quan chức Lầu Năm Góc đã cười khẩy khi biết Liên Xô sử dụng công nghệ đời cũ như vậy trên chiếc máy bay hiện đại nhất của họ.

    Tuy nhiên, người Mỹ vẫn tiếp tục muốn tìm hiểu lý do tại sao người Nga sử dụng bóng đèn điện tử chân không thay vì bóng bán dẫn. Sau nhiều năm nghiên cứu, họ mới nhận ra người thiết kế chiếc tiêm kích Foxbat rất thông minh. Nhờ các bóng điện tử chân không, radar Mig-25 phát huy được uy lực đến mức không thể bị gây nhiễu điện tử dưới mọi hình thức.

    Ngoài ra, bóng điện tử chân không cũng giúp các hệ thống trên máy bay chịu được xung điện từ, do đó, nếu một cuộc chiến tranh hạt nhân nổ ra, tiêm kích Foxbat là máy bay duy nhất cất cánh được trên thế giới.

    Trung úy Belenko đã tiết lộ rất nhiều bí mật về tiêm kích Mig-25, trong đó có việc các chuyên gia Liên Xô sử dụng rượu ngũ cốc để làm tan băng kính chắn gió của chiếc chiến đấu cơ này, nhưng các chỉ huy phi hành đoàn dưới đất đã uống chúng và bí mật đổ nước vào.

    Belenko còn nói với các điều tra viên người Mỹ rằng ở độ cao hơn 24 km, chiếc Mig-25 của anh ta chỉ có thể hành trình an toàn ở vận tốc Mach 2,8 ( 3.500 km/h) thay vì vận tốc Mach 3,2 (3.920 km/h) như các nguyên mẫu Mig-25. Thậm chí ngay cả ở vận tốc Mach 2,8, động cơ máy bay bị quá nhiệt và 4 tên lửa không đối không trên các giá treo ở cánh rung lên rất nguy hiểm.

    Các kỹ sư Mỹ đã nhận thấy công nghệ Liên Xô sử dụng lạc hậu đáng kinh ngạc. Đôi cánh Mig-25 được hàn thủ công thay vì sử dụng máy móc và các đinh tán không được làm nhẵn để giảm lực cản.

    Bất chấp những điểm yếu này, một chuyên gia đã thừa nhận rằng Mig-25 là một máy bay tuyệt vời. Động cơ của máy bay thải ra ít muội than hơn máy bay Mỹ và tạo lực đẩy tới 12.246 kg chứ không phải 11.113 kg như các chuyên gia Mỹ ước tính.




    Trung úy không quân Liên Xô Viktor Belenko. Ảnh: History

    Tổn thất lớn nhất của Liên Xô là tài liệu hướng dẫn vận hành máy bay mà Belenko mang theo. Không quân Liên Xô cũng phải phát triển một hệ thống radar hoàn toàn mới cho Mig-25 bởi tính năng radar cũ đã bị lộ và các phi công Mỹ sẽ biết cách khắc chế, khiến tiêm kích này gặp bất lợi trong bất kỳ trận không chiến nào trong tương lai. Liên Xô sau đó thiết kế lại tiêm kích này, khắc phục những hạn chế, và cho ra mắt tiêm kích đánh chặn huyền thoại Mig-31 với tốc độ tương đương.

    Việc phi công đào thoát và bí mật quân sự về tiêm kích Mig-25 không hẳn là một thảm họa với Liên Xô bởi đây cũng là cách tiếp thị sản phẩm tốt khiến một loạt các nước Trung Đông đặt mua, dù Liên Xô không bán các máy bay đời mới của mình.

    Các lực lượng không quân Ai Cập, Iraq và Syria đã mua lượng lớn tiêm kích Foxbat và đối phó hiệu quả với các lực lượng không quân Mỹ và Israel vốn có số lượng chiến đấu cơ lớn hơn nhiều và phi công được huấn luyện bài bản hơn. Trong các cuộc chiến tranh giữa Israel và các nước Arab, tiêm kích Phantom và Mirage của Israel đã từng bất lực trước tốc độ của những chiếc Mig-25 trong biên chế không quân Ai Cập.













    avatar
    hoalucbinh
    Pre-Moderator
    Pre-Moderator

    Tổng số bài gửi : 2983
    Join date : 15/06/2012

    default Re: Những cuộc đào thoát của các phi công trong Thế chiến II

    Bài gửi by hoalucbinh on Tue Nov 01, 2016 12:20 am


    ... Thân mời tất cả Huynh Đệ Tỷ Muội, cùng xem lại lịch sử
    những cuộc đào thoát của các phi công trong Thế chiến II....

    - 4 ) Cuộc đào thoát của phi hành đoàn Nga 378 ngày trong tay Taliban....

     Sau 378 ngày bị Taliban giam cầm, toàn bộ 7 thành viên phi hành đoàn của chiếc phi cơ vận tải Il-76 Nga đã đào thoát trên chính máy bay của mình. .

     

    Máy bay Il-76, số hiệu RA-76842 của hãng hàng không Kazan Airlines,
    Nga, tháng 4 năm 1995 trước khi bị Taliban bắt giữ. Ảnh: Aerostan.

    Ngày 3 tháng 8 năm 1995, chiếc máy bay vận tải Il-76 mang số hiệu RA-76842 của hãng hàng không Kazan Airlines, Nga bị tiêm kích Mig-21 của lực lượng Taliban khống chế và ép hạ cánh ở sân bay Kandahar, trong khi được chính phủ Afghanistan thuê chở vũ khí cho quân đội nước này, theo Sputnik.

    Taliban sau đó đã cáo buộc phi hành đoàn Il-76 can thiệp vào công việc nội bộ của Afghnistan, giam giữ họ trong suốt 378 ngày đêm trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt. Taliban tuyên bố chỉ thả phi hành đoàn nếu Nga trao trả các tù nhân của lực lượng này đang bị bắt giữ. Tuy nhiên, Kremlin lúc đó từ chối và khẳng định không giam giữ bất cứ người Afghanistan nào.

    Sau nhiều lần thương lượng bất thành, các thành viên Taliban thậm chí yêu cầu phi hành đoàn Il-76 phải cải sang đạo Hồi cùng lời hứa "có cánh" về một cuộc sống tươi đẹp tại Afghnistan, nhưng không thành công.

    Thất bại đàm phán của chính phủ khiến phi hành đoàn của Il-76 vô cùng thất vọng và buộc phải lên kế hoạch tự trốn thoát khỏi Kandahar bằng chính máy bay của mình.

    Trước tiên, phi hành đoàn thuyết phục Taliban rằng chiếc máy bay rất có giá trị và phải được bảo dưỡng định kỳ. Họ đưa ra bằng chứng rằng bộ phận hạ cánh của chiếc máy bay đang gặp sự cố nghiêm trọng khiến lần hạ cánh ở sân bay Kandahar mới đây gặp nhiều khó khăn.

    Taliban, thời điểm đó mới tuyên bố thành lập tiểu vương quốc Hồi giáo Afghanistan, đang trong thời kỳ thiếu thốn về trang thiết bị. Do rất muốn sở hữu thêm một chiếc vận tải cơ hạng nặng như Il-76, nên lực lượng này đã đồng ý cho phép phi hành đoàn kiểm tra máy bay mỗi tháng một lần, và mỗi lần đều có 6 lính canh giữ nghiêm ngặt.


    Ngày 16 tháng 8 năm 1996, lợi dụng thời điểm ba lính Taliban canh đang tiến hành buổi cầu nguyện trong ngày lễ của Hồi giáo, phi hành đoàn Il-76 lên máy bay và dễ dàng vô hiệu hóa ba lính còn lại, đưa máy bay cất cánh thực hiện cuộc đào thoát.

    Ngay khi phát hiện ra sự việc, bộ phận kiểm soát không lưu sân bay Kandahar vội vã ra lệnh phi cơ chiến đấu đuổi theo, rất may lúc đó là phi công duy nhất của Taliban lại không có mặt ở sân bay. Sau đó, lính canh sân bay đã nỗ lực chặn chiếc Il-76 cất cánh bằng một chiếc xe cứu hỏa nhưng bất thành.

    Để tránh trường hợp bị truy đuổi, phi hành đoàn Il-76 quyết định không đưa máy bay bay về Nga mà bay sang biên giới Iran rồi băng qua vịnh Persia đến Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE).

    Do đã được đổ đầy nhiên liệu để chuẩn bị cho một chuyến bay khứ hồi trước đó, nên Il-76 không gặp bất cứ vấn đề gì trên hành trình đào thoát. Đặc biệt, máy bay đã bay trên khu vực Afghanistan và Iran với độ cao rất thấp mà không mở tín hiệu liên lạc để tránh bị hệ thống phòng không phát hiện.

    Cuối cùng chiếc Il-76 đã đáp được xuống sân bay của UAE vào chiều ngày 16 tháng 8 năm 1996, và sau đó trở về Nga an toàn.

    Ngày 22 tháng 8 năm 1996, Tổng thống Nga khi đó là Boris Yeltsin ký quyết định phong tặng cho cơ trưởng và cơ phó Il-76 danh hiệu "Anh hùng Nga".
    Các thành viên còn lại của phi hành đoàn được trao tặng "Huân chương dũng cảm"..













    avatar
    hoalucbinh
    Pre-Moderator
    Pre-Moderator

    Tổng số bài gửi : 2983
    Join date : 15/06/2012

    default Re: Những cuộc đào thoát của các phi công trong Thế chiến II

    Bài gửi by hoalucbinh on Tue Nov 01, 2016 12:22 am


    ... Thân mời tất cả Huynh Đệ Tỷ Muội, cùng xem lại lịch sử
    những cuộc đào thoát của các phi công trong Thế chiến II....

    - 5 ) Giám mục tiếp tay giúp các trùm phát xít Đức đào thoát...

     Sau Thế chiến II, nhiều sĩ quan Đức Quốc xã đã thoát khỏi sự truy lùng của phe Đồng minh và sống tự do ở nước ngoài, nhờ sự giúp đỡ của một giám mục Vatican.. .



    Cựu sĩ quan Quốc xã Franz Stangl. Ảnh: Le Nouvel Observateur.

    Khi đặt chân đến Rome vào cuối năm 1947, Franz Stangl, người đứng đầu "trại hủy diệt Treblinka" của phát xít Đức tại Ba Lan, nơi cướp đi sinh mạng của 900.000 người Do Thái trong Thế chiến II, không còn mang thân phận một tội phạm chiến tranh, theo Le Nouvel Observateur.

    Trước đó vài tháng, Stangl được một mạng lưới bí mật giải cứu khỏi nhà tù tại Áo, nơi y bị giam giữ trong hơn hai năm. Stangl và gia đình nhanh chóng được cấp giấy tờ tùy thân giả và trở thành những công dân Đức di cư hoàn toàn vô tội.

    Ngay sau khi đến Rome, Stangl được thông báo sẽ gặp một giám mục người Áo có vai vế tại Vatican, người đứng đầu mạng lưới giải cứu bí mật, đồng thời cũng là người có nhiệm vụ sẽ giúp đỡ Stangl và gia đình sau này.

    "Một giám mục tóc nâu bước vào phòng, vừa thoáng nhìn thấy tôi đã thốt lên 'Ông chắc chắn là Franz Stangl, tôi đợi ông đã lâu', lúc đó tôi mới nghĩ mình đã thực sự sống lại", trùm phát xít này kể lại nhiều năm sau.

    Viên giám mục sắp xếp cho Stangl một chân làm thủ thư trong thư viện của Giáo hội, được chu cấp nhà cửa và tiền bạc. Một thời gian sau, Stangl cùng vợ và ba con gái được đưa đến Brazil với visa du lịch dài hạn, nơi họ sống yên bình đến khi bị bắt lại vào năm 1967.

    Năm 1946, trong khi chờ xét xử trong một nhà tù ở Đức, cựu trung tá mật vụ SS Đức Adolf  Eichmann, người được mệnh danh là "đao phủ Quốc xã" chuyên thực thi kế hoạch thảm sát người Do Thái tại châu Âu của Hitler, cũng bất ngờ được giải cứu.

    Sau hơn 4 năm ẩn náu tại Đức, đầu năm 1950, Eichmann được cung cấp giấy tờ giả làm người tị nạn vượt biên sang Italy. Tại đây, Eichmann cũng được sắp xếp gặp giám mục nọ trước khi được đóng giả làm nhân viên Chữ thập Đỏ Thụy Sĩ để đào thoát sang Argentina.

    Vài năm sau gia đình của Eichmann cũng được đưa tới Argentina và sống an nhàn tại quốc gia này đến năm 1960 thì bị cơ quan tình báo Israel bắt giữ.

    Một nhân vật khét tiếng khác của Đức Quốc xã là bác sĩ Josef Mengele, người đã tham gia sát hại hơn hai triệu người Do Thái trong các phòng hơi ngạt tại trại tập trung Auschwitz, cũng đào thoát thành công sang Argentina năm 1949 nhờ giấy tờ giả của vị giám mục người Áo, trước khi đến định cư tại Brazil.

    Mặc dù bị cơ quan tình báo Israel Mossad ráo riết truy lùng, Mengele vẫn không hề bị bại lộ thân phận cho đến cuối đời. Năm 1979, giới chức Brazil phát hiện Mengele chết đuối tại bãi biển ở miền nam nước này..




    Giám mục người Áo Alois Hudal. Ảnh: Le Nouvel Observateur

     Giám mục tóc nâu

    Theo L’Express, sở dĩ các trùm phát xít này có thể dễ dàng trốn thoát sự truy lùng của quân Đồng minh là nhờ sự tiếp tay của Alois Hudal, giám mục người Áo có thế lực và ảnh hướng lớn trong Giáo hội Vatican.

    Giám mục Hudal sinh năm 1885 tại thành phố Graz của Áo, được thụ phong linh mục vào năm 1908. Năm 1915, khi Áo tham gia vào phe Trục cùng Đức trong Thế chiến I, Hudal tình nguyện gia nhập quân đội với vai trò tuyên úy. Cũng trong khoảng thời gian này, quan điểm về chủ nghĩa xã hội quốc gia (gọi tắt là Quốc xã) của ông đã manh nha hình thành.

    Sau khi giải ngũ, Hudal được Giáo hội điều động về làm linh mục tại Vatican. Năm 1923 ông được bổ nhiệm vào vị trí quản lý nhà thờ Santa Maria dell'Anima. Được để mắt trong quãng thời gian dài phục vụ tận tụy, năm 1933, Hudal được Giáo hoàng Pius XII thăng chức giám mục, và trở thành một trong những trợ lý thân cận của người đứng đầu Vatican.

    Sau thất bại của Đức Quốc xã năm 1945, tận dụng vị trí quan trọng trong Giáo hội và mối quan hệ gần gũi với Giáo hoàng, Hudal thiết lập một mạng lưới bí mật nhằm giúp đỡ các thành viên Quốc xã chạy trốn, để tránh khỏi án tử hình.

    Lúc cuộc chiến vừa kết thúc, xã hội Italy đứng trước nguy cơ rơi vào tình trạng bất ổn bởi dòng người di cư ồ ạt từ Đức và các nước Đông Âu. Chính vì thế, Hudal đã đề nghị Giáo hoàng thành lập một ủy ban đặc biệt trực thuộc Giáo hội, có nhiệm vụ hỗ trợ nhân đạo đối với lượng người di cư khổng lồ này.


    Dưới sự giám sát của giám mục Hudal, ủy ban này đã giúp hàng nghìn thành viên Quốc xã cũng như gia đình của họ chạy trốn khỏi Đức bằng cách làm giấy tờ giả, biến họ thành dân thường vô tội, thậm chí trở thành nạn nhân của Quốc xã. Các thành viên chủ chốt như Franz Stangl, Adolf Eichmann, Josef Mengele... được đặc biệt chú ý, bởi nếu bị đem ra xét xử, chắc chắn họ sẽ phải nhận án tử hình.

    Được toàn quyền quyết định hoạt động của ủy ban, giám mục Hudal đã hỗ trợ đắc lực cho việc giải cứu các sĩ quan chủ chốt của Quốc xã khỏi nhà tù bằng cách làm giả các giấy tờ về y tế và nhân đạo mà Giáo hoàng không hề hay biết.

    Vào giữa năm 1947, cơ quan tình báo của Mỹ cũng chú ý đến vị giám mục tóc nâu này, tuy nhiên sau nhiều lần thẩm vấn, họ không tìm ra bằng chứng buộc tội Hudal và để ông tiếp tục chỉ đạo ủy ban đặc biệt của Giáo hội.

    Cuối năm 1950, mạng lưới bí mật của giám mục Hudal bắt đầu bị bại lộ khi báo chí Italy đăng tải bài điều tra về việc ông che giấu một thành viên cấp cao của SS là chuẩn tướng Otto Wachter trong một tu viện nằm ngay tại Vatican. Từ đó quan hệ của ông với Giáo hoàng bắt đầu đi xuống, và Giáo hội cấm ông đặt chân tới Rome.

    Tháng 4 năm 1951, dưới áp lực của các giám mục người Áo, Hudal phải từ bỏ chức vụ quản lý nhà thờ  Santa Maria dell'Anima và các chức vị tại Vatican. Giáo hội đã sắp xếp cho Hudal sống tại một tu viện nhỏ cách Rome 20 km. Ông sống trong quên lãng tại đây và chết vào ngày 13 tháng 5 năm 1963.














    Sponsored content

    default Re: Những cuộc đào thoát của các phi công trong Thế chiến II

    Bài gửi by Sponsored content


      Hôm nay: Wed Aug 16, 2017 6:43 pm