CHƠI CHỮ

    Share
    avatar
    duyen
    Admin
    Admin

    Tổng số bài gửi : 23098
    Join date : 09/06/2012

    default CHƠI CHỮ

    Bài gửi by duyen on Sat Jul 21, 2012 1:49 am

    CHƠI CHỮ

    Chơi chữ là một nghệ thuật , nó đòi hỏi phải nhanh trí và có một kiến thức rộng lớn .Đôi lúc đòi hỏi ở đầu óc dí dỏm , pha chút châm chọc , ngạo đời ..... bm trước khi vào đề xin định nghĩa về :

    1- Chơi chữ là gì ?

    Ngày xưa các cụ nhà ta thích dùng chữ để tả cảnh , tả tình , nhiều khi dùng chữ lắc léo để " móc " nhau , hoặc mĩa mai . Có những câu đố đọc lên rất tục , nhưng lúc giảng thì thanh như :" Da trắng vỗ bì bạch " . Hoặc nói lái nghe ra tục tỉu nhưng giảng thanh tao . Dùng cùng một vần , âm điệu giống nhau :
    "Phất phất phóng phong phan , pháp phái phi phù , phù phụng Phật .
    Căng căng canh cổ kệ , ca cao kỉ cứu , cứu cùng kinh ."
    ( Phất phất cờ phứơng bay trứơc gió , đạo pháp làm phép đốt bùa , bù thờ Phật ;
    Oanh oanh hòa giọng đọc kệ cổ , cất cao tiếng nghiền ngẩm kinh , nghiền ngẩm đến cùng .)

    Đây là câu đó chọc ghẹo ông sư móm và chú Tiểu ngọng của Ông Nguyễn Khuyến .

    Vậy chơi chữ là dùng phương thức diễn đạt đặc biệt , sao cho ở đó song song tồn tại hai lựơng ngữ nghĩa khác hẳn nhau đựơc biểu đạt bởi cùng một hình thức ngôn ngữ , nhằm tạo nên sự thú vị mang tính chất chữ nghĩa . Càng làm phong phú thêm ngôn ngữ , văn chương Việt Nam .

    2- Chơi chữ trong văn chương .

    Trong văn chương có hai lối chơi chữ dựa vào ca['c phương tiện ngôn ngữ đựơc thể hiện trong văn bản và kiểu chơi chữ dựa vào tiền giả định là dữ kiện văn học , văn hóa .
    2.1 Bằng phương tiện ngữ âm và chữ viết .
    a- Mô phỏng âm thanh .
    " Hu ta tồ hề ! Tòng Xích Tùng chi tung tịch cốc ;
    Phu nhi tri hĩ ! Trắc Hỗ sơn chi trắc tùng bi ."
    Nguyễn Khuyến .

    Hay một câu đố nhân gian , do đám học trò đê"n thăm thầy đồ , thấy nhà đóng cửa mà bên trong thì nghe có tiếng rúc rích và tiếng giừơng kêu ọt ẹt , các trò bấm nhau cừơi . Thầy thấy thẹn liền ra câu đối , nếu đối đựơc thì mới mở cửa :

    " Sĩ đáo ngọai gia , thầm bất thầm , thì bất thì, thầm thì thầm thì ."

    Một anh nho sinh mới đối lại :

    " " Sư ngọa trung phòng , ọt bất ọt ,ẹt bất ẹt , ọt ẹt ọt ẹt ! "

    CÙNG ÂM .

    Nếu ai là ngừơi Huế , nhiều lúc trong câu nói có tính cách điệp âm , hay hiểu hai , ba nghĩa . Vi dụ : Một ngừơi bạn vào nhà , con chó xù nhe răng ra sủa . Cô chủ ngừơi Huế lớn tiếng bảo bạn :

    - Không RĂNG mô .

    - Răng : là cái răng ( nghĩa đen )
    - Răng : là sao , chi , gì ....
    Thành ra câu trên ngừơi Nam sẽ nói :" Không gì đâu " .
    Làm sao con chó cả hàm răng dữ thế lại bảo không răng mô hehe e e e

    Bài thơ của Tôn Thất Mỹ :

    Không răng đi nữa cũng không răng ,
    Chỉ có thua ngừơi một miếng ăn .
    Miễn đựơc nguyên hàm nhai tóp tép ,
    Không răng đi nữa cũng không răng .

    Ý bài thơ nói về chiếc răng của tác giả bị rụng . Nhưng đựơc tin Triều đình cho cho phục nguyên hàm tá lý , nhưng không hửơng lương ( Salary ) . Nhưng Không răng " ( Không có răng ) đồng âm với " không răng " ( không sao - từ địa phương ) .
    " Nguyên hàm " vừa có nghĩa là còn hàm răng nguyênvẹn để nhai , vừa có ý chỉ cái hàm ( Chức ) tá lý đựơc phục hồi sau khi bị tứơc đi .

    Ngừơi Việt có cái tài là dùng văn hóa của nứơc khác chế biến thành văn hóa mình .
    Những tiếng nứơc ngòai :

    - Cravat là cà - vạt . ( Cái nơ cổ)
    - Marcatheur là Mặt -ác- tệ ( Tên Mỹ )
    - Weamoreland là vét- mỡ -lợn .( Tên Mỹ )
    - Corset là cút - xê . ( Xu chiêng )
    - En France là Ăng Phoong ( Sang Pháp )
    - Canard là cá - an'c ( Con vịt )
    - Cochon là cô - soong ( Con lợn )
    - La Poche là la - pốt ( Cái túi )
    - L'argent 'à lạc - giòong ( Tiền bạc )
    - Au revoir là ô voa ( Tạm biệt )
    - Bâton là batoong ( cái gậy )

    - NHIỀU NGHĨA .

    Như Cha Mẹ đựơc gọi nhiều cách :
    - Cha : Ba = Bố= Tiá = Bọ = Dựơng = Thầy = Papa . Nhiều khi con khó nuôi còn gọi là Anh .

    - Mẹ : Má = Mạ = Me = Bu = U = Dì = Mama .

    Qua câu thơ :
    Em đây là gái năm con ,
    Chồng em rộng lựơng , em còn chơi xuân .

    Xuân : Là mùa xuân , cũng là tuổi còn trẻ

    - THEO LỐI DỰA VÀO PHƯƠNG NGỮ .

    Tức là dựa vào ngữ âm , ngữ vựng .......của một phương ngữ để chơi chữ . Đây hòan tòan theo văn chương mà không nên nghĩ lệch lối nhân gian . Đọc bài thơ :

    Trêu Cô Hàng Nứơc .

    Bãn hạng nay cô đã mấy tuổi ?
    Nứơc cô còn nõng hay đã nguồi ?
    Lụng lặng trên treo dăm nắm nẹm ,
    Lơ thơ dứơi móc một buồng chuối .
    Bán dạn bán dày đều xoa mợ ,
    Khoai ngựa khoai lang cụng chấm muồi .
    Ăn uộng xong rồi tiền chư đụ ,
    Biệt nhau chi cho chịu một vài buồi .
    ( Nguyễn Quỳnh )

    Bài này nói theo giọng ngừơi Hà Tĩnh ( Thế kỷ 18 ) , đọc âm đa số theo vần huyền , nghe ra gần như tục tỉu , nhưng không phải thế . Ngừơi ta còn nghi tác giả là Trạng Quỳnh . Ta tạm chuyển âm phổ thông VN thử nha :

    Bán hàng nay cô đã mấy tuổi ?
    Nứơc cô còn nóng hay đã nguội ?
    Lũng lẳng trên treo dăm nắm nem ,
    Lơ thơ dứơi móc một buồng chuối .
    Bánh dán bánh dày đều xoa mỡ .
    Khoai ngứa khoai lang cũng chấm muối ,
    Ăn uống xong rồi tiền chưa đủ ,
    Biết nhau cho chịu một vài buổi .

    Đây là một bài thơ trêu ghẹo cô hàng nứơc . Vì vậy bài thơ vận dụng phương ngữ chơi chữ nhiều hơn chú ý về vần luật .

    - NÓI LÁI .

    Ngừơi Việt chúng ta trong đầu óc luôn có tánh trào lộng . Đọc lên nghe có lý , nhưng trong ý hàm chứa sự nghịch ngợm , châm biếm .
    Như Trạng Quỳnh là thơ chọc Bà Đòan Thị Điểm :

    Nắng cực lúa mất mùa ,đứng đầu làng xin xỏ ,
    Nở lòng nào chị chẳng cho .

    Hoặc đảo chữ :
    Lũ quỷ nay lại về lũy cũ,
    Thầy tu mô Phật cũng thù Tây .

    Trông khống vô phòng thấy trống không ,
    Chứa chan sầu lệ chán chưa chồng .
    Dòng châu lai láng dầu chong đợi ,
    Bóng nhạn lưng chừng , bạn nhóng trông .

    - CHƠI CHỮ THEO NGỮ ÂM .

    Ngòai Bắc thời nho học thịnh hành , nên các cụ đồ ngồi hay nghĩ ra thơ ghẹo nhau , đố tục , móc lò ..... Hình thức chơi chữ theo cách nhại âm , phỏng theo âm thanh , hay lối phiên âm Hán Việt . Thí dụ vài câu :

    Bà già , bà giả , bà gia ,
    Bà ra kẻ chợ , con ma bắt bà .

    Chồng chổng chồng chông ,
    Chồng bát , chồng đĩa , nồi hông cũng chồng .

    Bác gì , bác xác bác xơ ,
    Bác chết bao giờ , bác chả bảo tôi .Cô thỉ cô thi ,
    Cô đang đương thì , cô kẹo với ai ?...

    Muốn rằng tàu lặng tàu bay ,
    Nên anh bỏ việc cấy cày anh đi .
    Biết mà cu lít cu li ,
    Thà rằng ở vậy nhà quê với nàng .
    Nhà quê có họ có hàng ,
    Có làng , có xóm , nhở nhàng có nhau .

    - CHƠI CHỮ THEO LỐI ĐIỆP ÂM .

    Lọai này thì bên ca dao không có nhiều , nhưng rơi rớt trong dân gian cũng không ít . Hiện nay ngừơi ta sưu tầm đựơc một số :

    Duyên duyên ý ý tình tình ,
    Đây đây , đó đó , tình tình ta ta .

    Năm năm tháng tháng , ngày ngày ,
    Chờ chờ đợi đợi , rày rày , mai mai .

    Nứơc chảy riu riu ,
    Lộc bình trôi ríu ríu,
    Anh thấy em nhỏ xíu ,
    ...... anh thương .

    Sàng sàng lệ nhỏ cành mai ,
    Dẫu không thành đừơng chồng vợ ,
    Cũng nhớ hòai nghĩa xưa .

    - CÙNG ÂM .

    Trong dân gian , những lúc hội hè , đình đám , hay cùng nhau gặt lúa trên đồng . Trai gái thừơng thách thức nhau về tài đối đáp , ăn nói lanh lẹ qua câu hò , câu đối . Sau đây là một cặp trai trẻ đối nhau :

    Một trăm thứ dầu , dầu chi không ai thắp ?
    Một trăm thứ bắp , bắp chi không ai rang ?
    Một trăm thứ than , than chi không ai quạt ?
    Một trăm thứ bạc , bạc chi bán không ai mua ?
    Trai nam nhi đối đặng , gái bốn mùa xin theo .

    Nam nhi đáp lễ :

    Một trăm thứ dầu , dầu xoa không ai thắp ;
    Một trăm thứ bắp , bắp chuối chẳng ai rang ;
    Một trăm thứ than , than thân không ai quạt ;
    Một trăm thứ bạc , bạc tình chẳng ai mua :
    Trai nam nhi đà đối đặng , gái bốn mùa tính răng ?

    Nhưng cô gái thứ dữ đâu đã chịu thua , nàng lên tiếng hát lại :

    Em hỏi anh trong các thứ dầu , có dầu chi là dầu không thắp ?
    Trong các thứ bắp , bắp chi bắp không rang ?
    Trong các thứ than ,than chi là than không quạt ?
    Trong các thứ bạc , bạc chi là bạc không mua ?
    Trai nam nhơn chàng đối đựơc mới rõ ai thua phen này ?

    Chàng trai ngẩm nghĩ một lát , nhưng không chịu thua , cất giọng hò lại :

    Trong các thứ dầu , có nắng giải mưa dầu không thắp ;
    Trong các thứ bắp , có bắp mồm bắp miệng là bắp không rang ;
    Trong các thứ than , có than hởi than hời là than không quạt ;
    Trong các thứ bạc , có bạc tình bạc nghĩa là bạc không đổi không mua .
    Trai nam nhơn đà đối đặng ,hỏi thiếp vừa tính sao ?

    - ĐỐ CHỮ :
    1/ Chữ Nho ( Hán tự )

    Để thử sức học và trí thông minh , ngừơi xưa cũng thừơng đố nhau và giải chữ .

    Cô kia đội nón chờ ai ?
    Chớ lất chú chệt mà hòai mất công .

    **** Là chữ AN .

    Nhất diện lữơng mi
    Nhất sấu nhất phi
    Nhất niên nhất nguyệt
    Nhất nhật tam kỳ .

    *** Là chữ BÁT .

    Con cu mà đậu nhánh mè
    Chữ thập , chữ tứ , nhất đè chữ tâm .

    ***** là chữ ĐỨC .

    2/ Chữ Quốc Ngữ :

    Hai ngừơi đứng bắt tay nhau ,
    Chạm trán ,chạm đầu ,mà chẳng chạm chân .

    ***** là chữ A

    Đầu bò mà gắn đuôi heo
    Ai mà thấy nó lăn queo tức thì .
    Đầu trâu mà gắn đuôi nai ,
    Trơ như đá không ai sợ nào .

    ****** Là chữ BEO và chữ TRAI

    - TẠO NHIỀU TỪ TRÙNG ÂM .

    Cái khó là trong câu ca dao làm sao lập đi lập lại cho trùng âm mà nghe vẫn hay :

    -Không vô có lẽ đi chi ,
    Đi chi đến đó , trách chi chi mà .

    -Anh hùng đến đó thì vô ,
    Không vô rồi lại trách vô vô tình .

    - Ngừơi ta đãi đỗ đãi vừng ,
    Ngừơi ta đãi chị , chị đừng đãi em .

    - Ví dầu ví dẫu ví dâu ;
    Ví qua ví lại , ví trâu vô chuồng .

    -Vò chi , vò đỗ vò vừng ;
    Như đây với đó , xin đừng vò nhau .

    -Trồng bông , luống đậu luống cà ,
    Ai làm cho luống công ta thế này ?

    - MỘT TỪ NHƯNG HIỂU HAI NGHĨA .

    *** Chuyện từ của ngừơi Huế :
    Một ngừơi bạn vào nhà , con chó xổng ra nhe răng gầm gừ , bà chủ la lớn :

    -"Đi vô đi . Không răng mô ".

    Răng vừa là cái răng , cũng nghĩa là can chi . ý câu này là :
    "Cứ vào đi . Không can chi đâu " .

    **** Bây giờ ngừơi Nam Bộ :

    Ông bạn già xóm trên , hẹn ông bạn trẻ xóm dứơi , ngày mai qua nhậu . Nhưng chờ mãi không thấy , sáng ngày kia thấy ông bạn già lù lù đi vào . Miêng bô bô :

    ]- "Hôm qua QUA nói QUA qua mà QUA không qua . Hôm nay QUA không nói QUA qua nhưng QUA qua ."

    ++ QUA : là tôi .
    qua : là đến .
    qua : là ngày trứơc ( Last day )

    Ý câu này là :" Hôm trứơc tôi nói tôi đến mà tôi không đến . Hôm nay tôi không nói đến mà tôi đến " .

    Dứơi Miệt Bến Tre Cà Mâu của mình nói chữ " R " thành ra chữ " G " :

    -" Con cá GÔ nhảy GỒ GỒ trên cái GỘ ."

    Ý là :" Con cá Rô nhảy rồ rồ trên cái rỗ "

    Chòii oiiii ..... Mí ông Nam Bộ heheee e e e e


    Có nhiều lúc sự chú thích nghĩa đã trình bày trên là không cần thiết . Vì chúng đã đựơc đưa vào , làm thành nội dung của bài ca dao . Ví dụ :

    - Chàng về Hồ , thiếp cũng về Hồ ,
    Chàng về Hồ Hán , thiếp về Hồ Tây .

    - Đãi bôi kia hởi đãi bôi ,
    Có một đaấu tấm đãi mừơi khúc sông .

    Tuy cả hai cùng " về Hồ " cả , nhưng "Hồ" của chàng là Hồ Hán Thương ( đóng đô ở Thanh Hóa ) , còn " Hồ " của thiếp là Hồ Tây ( Kinh đô Thăng Long của nhà Trần cũ )

    -DÙNG TÊN ĐỘNG VẬT THỰC VẬT .

    Trong cuộc sống , con ngừơi gần thiên nhiên , nên biết hấp thụ cảnh vật chung quanh , và đem vào ca dao tục ngữ , để làm giàu ngôn ngữ dân tộc mình . Những câu đại khái như :

    - Bồng bồng mà nấu canh tôm ,
    Ăn vào mát ruột , đến hôm lại bồng .

    -Tu đâu không thấy tu chùa ,
    Hay là tu hú , mỗi mùa mỗi tu .

    -Con chim sa sả đậu trên cành sả ,
    Con cá thia lia núp bụi cỏ thia .
    Trách ai làm cho khóa rẽ chìa ,
    Khi thương thương tận , khi lìa lìa xa .

    "Từ ngày thiếp vắng mặt chàng ,
    Bây giờ LIỄU đã có NGANG ra rồi ".

    BK hiễu chừ Liễu như BK đã giải nha .

    " Đến đây hỏi thật quê chàng ,
    Hỏi danh , hỏi họ , hỏi làng làm chi ?"

    Anh chàng trai không chịu nói tên họ mình , mà chỉ nói tên làng thì chàng ta đánh vần kỷ từng nét một , là làng Phú Nghĩa ( .... ) , Huyện Qùynh Lưu , Nghệ An . " Nhị mộc thành tâm " ( ........... ) tức hai cây thành rừng , " Chi tử " là một cách chiết tự của ( ...... ) ( " Tự " = chữ ) ;

    VỀ NÓI CHỮ :

    Bấy lâu em vắng đi đâu ,
    Bấy giờ thiên đã mọc đầu ra chưa ?

    "Thiên" (.... Hán tự ) + "mọc đầu" ( Hán tự ) ( " phu " là chồng ) .
    " Liễu " ( Hán tự ) " có ngang " thành chữ Tử (Hán tự ) ( " Tử " là con ) .

    Tóm lại lời chàng hỏi cô ta là :

    " Em đã có chồng chưa ?"

    Và câu trả lời của nàng là :

    " Chẳng những có chồng mà có cả con nữa ! "

    Trong văn tự nhiều lúc ngừơi ta vẫn dùng chữ để thắng nhau . Như kiểu luật sư tại tòa án vậy .
    .... Ngày xưa nhà phú hộ nọ qua đời , để lại vừơn tựơc , ruộng đất cho ngừơi con trai . Sau một thời gian tiêu xài , ngừơi con đem bán vừơn cây ăn trái sau lưng nhà . Nhưng khi làm văn tự , ông ta yêu cầu để lại cây DẦU mà tổ tiên đã trồng hồi trứơc . Văn tự khế ứơc đọan mãi viết :

    " ...... Tôi tên là Trần X , có bán cho ông bà Y sáu mẫu đất vừơn dầu một cây không bán ............"

    Ông nhắc lại là bán hết nhưng để cây THẦU DẦU lại không bán , vì kỷ vật .

    Bán xong nhưng ông vẫn tiếc cây cối , hoa màu . Mà Ông Bà y lại cần hạ cây để làm sạch vừơn . Ông X đến Huyện hỏi thầy Thủ Bộ . sau một hồi xem văn bản , ông Thủ Bộ xúi ông X đâm đơn lên Huyện kiện . Ông ta mới lấy bút thêm vào dấu phẩy ( , ) thành ra đơn đọc lại thế này :

    " ..... Tôi tên là Trần X , có bán cho ông bà Y sáu mẫu đất vừơn ( , ) dầu một cây không bán ....

    Bây giờ bản văn đựơc ông Thủ Bộ thêm vào dấu phẩy sau chư~ "Vừơn " . Nên ông lý luận là Trần X chỉ bán đất thôi . Còn cây không bán , dầu chỉ một cây cũng không bán mà .

    Kết quả ông Trần X thắng kiện , mà vợ chồng ông Y không đốn hạ đựơc cây nào cả .

    Dầu : là cho DÙ .







      Hôm nay: Mon Mar 27, 2017 3:40 am